Một số nội dung trọng tâm quán triệt, triển khai Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 12/6/2021 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới
Lượt xem: 648

Ngày 12/6/2021, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 02-NQ/TW về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới. Nghị quyết đã nêu rõ: Trải qua hơn 90 năm hình thành và phát triển, sau 35 năm đổi mới đất nước, Công đoàn Việt Nam đã trưởng thành về mọi mặt, có những đóng góp xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại của cách mạng, góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng lớn mạnh. Công đoàn đã làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với công nhân, người lao động, tích cực tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nghị quyết đã xác định tổ chức và hoạt động của Công đoàn còn một số hạn chế, yếu kém, do nhiều nguyên nhân. Cùng với bối cảnh của đất nước hiện nay và trong thời gian tới, đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới mạnh mẽ, thực chất hơn tổ chức, hoạt động của Công đoàn Việt Nam, cụ thể:

1. Về quan điểm chỉ đạo

- Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh và xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới là trách nhiệm của Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội.

- Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn phải bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng, phù hợp với thể chế chính trị đất nước, yêu cầu hội nhập quốc tế.

- Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh là góp phần quan trọng xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Đổi mới tổ chức và hoạt động công đoàn phải phù hợp với số lượng, cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân, người lao động và yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát huy vai trò đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động.

- Đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo nguồn lực đủ mạnh để Công đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ; bảo đảm tính kế thừa, ổn định, có lộ trình phù hợp, vững chắc, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm thế giới.

2. Về mục tiêu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Xây dựng Công đoàn Việt Nam vững mạnh toàn diện, có năng lực thích ứng và giải quyết các vấn đề đặt ra, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới; là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng, Nhà nước; làm tốt vai trò cầu nối, giữ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với giai cấp công nhân, người lao động; xứng đáng là tổ chức đại diện lớn nhất, trung tâm tập hợp, đoàn kết giai cấp công nhân và người lao động cả nước; góp phần xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh, là lực lượng tiên phong trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nhanh và bền vững đất nước.

2.2. Mục tiêu cụ thể

* Đến năm 2025: Phấn đấu có 13,5 triệu đoàn viên công đoàn, hầu hết doanh nghiệp có 25 công nhân, lao động trở lên có tổ chức công đoàn; đến năm 2023 phấn đấu có 12 triệu đoàn viên. Phấn đấu 80% trở lên các doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức công đoàn ký kết được thoả ước lao động tập thể; đến năm 2023 đạt tỉ lệ trên 70%.

* Đến năm 2030: Phấn đấu có 16,5 triệu đoàn viên công đoàn; nơi chưa có tổ chức đại diện người lao động thì phần lớn người lao động được tập hợp, tham gia một số hoạt động của Công đoàn Việt Nam. Phấn đấu 85% trở lên các doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức công đoàn ký kết được thoả ước lao động tập thể.

* Đến năm 2045: Hầu hết người lao động tại cơ sở là đoàn viên Công đoàn Việt Nam; 99% doanh nghiệp, đơn vị có tổ chức công đoàn ký kết được thoả ước lao động tập thể.

3. Nghị quyết đề ra 6 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu

3.1. Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tập hợp, vận động đoàn viên, người lao động; tập trung phát triển đoàn viên, công đoàn cơ sở

- Nghiên cứu, triển khai các phương thức, mô hình tập hợp đoàn viên, người lao động thích ứng với tình hình mới; đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động để thu hút, tập hợp, định hướng cho công nhân, người lao động; tự nguyện tham gia, thành lập, xây dựng công đoàn ở cơ sở, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động và sự phát triển của doanh nghiệp.

- Đổi mới quy trình, thủ tục kết nạp đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở theo hướng linh hoạt, chủ động, kịp thời, thiết thực. Tập trung thành lập công đoàn cơ sở, nhất là ở các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước...

3.2. Tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện mô hình tổ chức; xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên nghiệp, đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới

- Tiếp tục nâng cao hiệu quả mô hình tổ chức công đoàn 4 cấp, kết hợp chặt chẽ giữa công đoàn địa phương và công đoàn ngành; tập trung nâng cao chất lượng công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở, nhất là công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước. Củng cố, phát triển công đoàn ngành, nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn địa phương;...

- Xây dựng mô hình tổ chức công đoàn theo hướng mở, linh hoạt, năng động. Nghiên cứu, tổ chức thí điểm một số mô hình mới theo hướng tập trung, tinh gọn, hiệu quả; thành lập trung tâm tư vấn và hỗ trợ người lao động ở những ngành, địa phương có đông công nhân, người lao động.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ công đoàn bảo đảm về số lượng, chất lượng. Cơ cấu cấp uỷ các cấp có tỉ lệ hợp lý người trưởng thành từ công nhân, công đoàn. Cấp uỷ thống nhất với công đoàn cấp trên trong việc đề bạt, điều động, luân chuyển chủ tịch, phó chủ tịch công đoàn cùng cấp.

- Nghiên cứu, ban hành chính sách phù hợp để tuyển dụng cán bộ công đoàn trưởng thành từ cơ sở, trong phong trào công nhân; thu hút, tạo động lực cho cán bộ công đoàn. Nghiên cứu, đề xuất cơ chế giao biên chế cho Công đoàn hợp lý, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế...

3.3. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động công đoàn đáp ứng yêu cầu tình hình mới

- Công đoàn các cấp căn cứ nhu cầu, nguyện vọng chính đáng và việc đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, người lao động để xác định nội dung và mục tiêu hoạt động; xây dựng niềm tin, tạo sự gắn kết giữa người lao động với tổ chức công đoàn để Công đoàn Việt Nam thực sự là tổ chức của người lao động, do người lao động và vì người lao động.

- Thường xuyên, chủ động phối hợp với người sử dụng lao động chăm lo lợi ích, bảo đảm quyền của người lao động; kịp thời giám sát, giải quyết và kiến nghị giải quyết những vấn đề bức xúc của công nhân, người lao động; tích cực xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp.

- Chủ động, tích cực mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhằm nâng cao vị thế của Công đoàn Việt Nam trên trường quốc tế...

3.4. Xây dựng nguồn tài chính đủ mạnh để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn

- Kịp thời rà soát, sửa đổi các quy định về quản lý, sử dụng kinh phí công đoàn, tài sản công đoàn phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Duy trì các nguồn lực hiện có; thu kinh phí công đoàn và khuyến khích xã hội hoá nguồn lực để công đoàn thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài chính, tài sản công đoàn, ưu tiên nguồn lực thực hiện nhiệm vụ chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; giám sát tài chính, tài sản công đoàn.

3.5. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động
công đoàn

- Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng đối với tổ chức và hoạt động công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; khắc phục tình trạng buông lỏng vai trò lãnh đạo hoặc bao biện, làm thay, giao nhiệm vụ không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn.

- Quan tâm lãnh đạo công tác phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước; thành lập tổ chức công đoàn để tạo tiền đề thành lập tổ chức đảng, đoàn thể khác.

- Tăng cường kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng về công nhân, công đoàn. Phát huy trách nhiệm nêu gương của đảng viên là cán bộ công đoàn, người đứng đầu...

3.6. Hoàn thiện chính sách, pháp luật; tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội với công đoàn

- Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật về lao động, công đoàn; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn năm 2012. Cơ quan quản lý nhà nước tích cực phối hợp với công đoàn tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về lao động, công đoàn.

- Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và chính quyền các cấp tăng cường phối hợp với công đoàn chăm lo, bảo đảm quyền lợi của người lao động, hỗ trợ và tạo điều kiện để công đoàn hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, thiết thực, hiệu quả.

- Quản lý tốt sự ra đời, bảo đảm hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp; có các biện pháp phù hợp, hiệu quả để thu hút, vận động, định hướng tổ chức này gia nhập Công đoàn Việt Nam...

4. Ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị

Tỉnh ủy Lào Cai xác định Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị là rất quan trọng, gắn liền với sự phát triển của đất nước, nhất là trong giai đoạn mới khi Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).

Tỉnh Lào Cai hiện nay có trên 70.000 CNVCLĐ, có 1260 CĐCS, với trên 55.000 đoàn viên công đoàn. Toàn tỉnh có trên 5000 các cơ sở đăng ký sản xuất, kinh doanh, nhưng chỉ có gần 2000 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Đại đa số doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước có quy mô nhỏ bé, lao động ít, lại thường xuyên biến động, người lao động chủ yếu ký hợp đồng theo mùa vụ; số người tham gia đóng BHXH, BHYT, BHTN ít, có đơn vị chỉ 1 - 3 người tham gia, thậm chí có doanh nghiệp không có người tham gia BHXH.

Công đoàn tỉnh Lào Cai, trải qua gần 70 năm từ ngày thành lập đến nay (15/11/1951-15/11/2021), dưới sự quan tâm chỉ đạo của Tổng LĐLĐ Việt Nam, của Tỉnh uỷ Lào Cai, sự phối hợp chỉ đạo, tạo điều kiện của các cấp uỷ đảng, các cấp chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, đội ngũ CNVCLĐ và các cấp công đoàn trong tỉnh đã luôn cố gắng, nỗ lực, quyết tâm phấn đấu vượt qua khó khăn thách thức, tích cực chủ động tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng và Nghị quyết Đại hội Công đoàn đề ra. Qua từng giai đoạn, công đoàn Lào Cai luôn đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, tập trung hướng về cơ sở, hướng về đoàn viên và người lao động. Các phong trào thi đua do công đoàn phát động và tổ chức thực hiện đem lại kết quả thiết thực góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương. Công tác tuyên truyền, giáo dục trong đội ngũ CNVCLĐ được đẩy mạnh, đã góp phần đưa nhanh các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với CNVCLĐ. Công đoàn các cấp đã chủ động và phối hợp với các ngành chức năng tổ chức kiểm tra, giám sát, việc thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động và giải quyết kịp thời các kiến nghị của công nhân lao động, góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định và tiến bộ trong các doanh nghiệp. Công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở, chất lượng hoạt động của ngày càng được nâng lên, đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ cơ bản đáp ứng yêu cầu, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế -  xã hội của tỉnh.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được công đoàn Lào Cai còn một số khó khăn, hạn chế như: Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho hoạt động công đoàn nên kết quả còn có mặt hạn chế; nhiều doanh nghiệp chưa thành lập được tổ chức Đảng nên khó khăn trong công tác lãnh, chỉ đạo hoạt động công đoàn. Công tác phát triển đoàn viên, công đoàn cơ sở chưa tương xứng với tốc độ phát triển của doanh nghiệp, người lao động; chất lượng đoàn viên chưa cao, hiệu quả hoạt động của công đoàn cơ sở còn hạn chế. Mô hình tổ chức, phương thức tập hợp đoàn viên, người lao động có mặt chậm được đổi mới. Một số chủ doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về việc thực hiện chính sách pháp luật, phát triển đoàn viên, còn lảng tránh, không muốn thành lập tổ chức công đoàn; chưa chấp hành nghiêm pháp luật lao động, có đơn vị còn nợ, trả chậm tiền lương của người lao động; việc phối hợp cùng tổ chức công đoàn xây dựng, thương lượng và ký kết thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) còn mang tính hình thức; chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trích nộp đóng BHXH, BHYT, BHTN đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, công nhân lao động; Đời sống vật chất, tinh thần của người lao động còn nhiều hạn chế, thiếu các thiết chế như nhà ở, nơi sinh hoạt văn hóa, thể thao cho người lao động...

Để sớm triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị trên địa bàn tỉnh Lào Cai, Tỉnh ủy giao cho Ban Dân vận Tỉnh ủy, Đảng đoàn Liên đoàn Lao động tỉnh và các cơ quan liên quan, căn cứ tình hình thực tiễn của tỉnh Lào Cai để nghiên cứu, tham mưu xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể thực hiện, phấn đấu các mục tiêu của tỉnh đặt ra phải đạt được cao hơn so với Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong triển khai thực hiện việc đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn tỉnh Lào Cai, xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân, viên chức, lao động, góp phần thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới./.

 

Ban Biên tập
Thông tin mới nhất
Thống kê truy cập
  • Đang online: 28
  • Hôm nay: 838
  • Trong tuần: 1,807
  • Tất cả: 465,205
Đăng nhập